A La Hán Đạo



Ngày xửa ngày xưa, có một người hộ tăng sống cùng với một vị tu sĩ.

Vì không biết thầy mình chính là một bậc A-la-hán, nên anh ta cứ than thở rằng:"Nếu trên đời này có các bậc A-la-hán, con rất muốn được đảnh lễ và chiêm bái ngài."

Nghe thấy người hộ tăng than thở như vậy, vị tu sĩ liền hỏi: "Con thực sự muốn đảnh lễ một vị A-la-hán sao?"

"Dạ muốn, bạch thầy," người hộ tăng thưa.

Vị tu sĩ bảo: "Nếu muốn thì hãy đi theo ta," rồi dẫn anh ta vào sâu trong rừng. Khi vào đến trong rừng, vị tu sĩ chỉ tay vào những cây tre xung quanh và nói:

"Cây tre này dài này, cây tre này ngắn này, cây tre này cong này, cây tre này thẳng này..." Nói xong, ngài liền quay trở về chùa.

Người hộ tăng trong lòng rất tức giận, nghĩ thầm: "Mình nói là muốn đi đảnh lễ bậc A-la-hán, vậy mà thầy không chỉ cho xem, lại đi chỉ mấy cây tre."

Khi về đến chùa, vị tu sĩ hỏi người hộ tăng: "Con đã biết cách nhìn thấy bậc A-la-hán chưa?"

Người hộ tăng hậm hực bạch rằng: "Con thưa là muốn đảnh lễ bậc A-la-hán, vậy mà Ngài toàn chỉ tay vào mấy cây tre thôi."

Vị tu sĩ ôn tồn giải thích: "A-la-hán không phải là điều gì khác lạ cả.

Biết một cách trực diện rằng cây tre dài là dài. Biết một cách trực diện rằng cây tre ngắn là ngắn. Biết một cách trực diện rằng cây tre cong là cong. Biết một cách trực diện rằng cây tre thẳng là thẳng.

Ngoài việc nhận biết thuần túy như vậy, họ không hề xen vào ý muốn hay sở thích cá nhân của mình như: 'Cây tre này cong quá, phải chi nó thẳng thì tốt biết mấy', hay 'Cây tre này ngắn quá, phải chi nó dài thì tốt biết mấy'.

Việc chỉ nhận biết mọi thứ một cách trực diện như chúng đang là, không để tâm mong cầu hay định kiến cá nhân xen vào, đó chính là trạng thái của một bậc A-la-hán.

Người phàm phu chúng ta thì không như vậy. Thấy cây tre cong thì liền nghĩ: 'Cây tre này cong mất rồi, nếu nó thẳng thì tốt biết bao'.

Thấy cây tre ngắn thì nghĩ: 'Cây tre này ngắn quá, nếu nó dài thì tốt biết bao'.

Họ luôn để tâm suy tính xem nên đem dùng nó vào việc gì, ở đâu thì tốt, rồi áp đặt ý muốn và sở thích của mình vào đó.

Khi áp đặt như vậy, nếu điều gì hợp với ý muốn của mình thì tâm tham (hài lòng, dính mắc) khởi lên.

Còn khi không hợp với ý muốn của mình thì tâm sân (bất mãn, tức giận) khởi lên.

Các phiền não như tham, sân vốn dĩ ban đầu không hề có. Chỉ vì chúng ta cứ đem ý muốn và sở thích của mình áp đặt vào vạn vật, nên tham và sân mới khởi lên, thiêu đốt và gây ra đau khổ trong tâm.

Đối với các bậc A-la-hán, thấy chỉ là cái được thấy, nghe chỉ là cái được nghe.Thấy thì biết, nghe thì biết, ngửi thì biết, ăn thì biết, chạm thì biết.

Họ chỉ thuần túy nhận biết như vậy. Đối với những gì thấy, nghe, ngửi, ăn, chạm, họ không còn áp đặt ý muốn hay sở thích cá nhân của mình vào nữa.

Vì các phiền não như tham, sân không có cơ hội khởi lên, nên nỗi khổ niềm đau do phiền não gây ra trong tâm đều hoàn toàn vắng lặng.

Trạng thái đó gọi là A-la-hán."

Sau khi nghe giải thích xong, người hộ tăng mới thông suốt và đảnh lễ bạch rằng: "Bạch thầy, giờ thì con đã biết cách nhìn thấy một vị A-la-hán rồi ạ."

Sở dĩ các bậc A-la-hán chấm dứt được đau khổ (khổ diệt) là vì họ thực hành hạnh không tạo tác ra Tập đế (nguyên nhân gây khổ), nhờ đó mà khổ đau được dập tắt hoàn toàn.

Khổ đau khởi lên không phải là một điều tự nhiên hay ngẫu nhiên mà có.

Khi các tâm thức khởi lên qua việc Thấy, Nghe, Ngửi, Ăn, Chạm, Biết, chúng ta lại thường xen vào những mong cầu và sở thích cá nhân của mình như: "Tôi không muốn thế này, tôi muốn thế kia", "Tôi không thích cái này, tôi thích cái kia".

Chính lúc áp đặt cái tôi và sở thích đó vào, các phiền não như tham, sân mới sinh khởi và tạo nên nỗi khổ trong tâm.

Khi đã nhận thức rõ ràng rằng: "À, hóa ra chính vì mong cầu (Tập đế) mà tâm này phải chịu khổ đau", biết được cái khổ do Tập đế sinh ra, người ta mới bắt đầu thực hành hạnh đoạn trừ Tập đế.

Thực hành đoạn trừ Tập đế nghĩa là gì?

Đó là "thực hành việc nhận biết mọi thứ một cách trực diện mà không xen suy nghĩ hay mong cầu của mình vào".

Việc thực hành như vậy chính là hạnh đoạn trừ Tập đế. Khi Tập đế bị đoạn trừ, khổ đau sẽ không còn cơ hội sinh khởi và lập tức được dập tắt.

Do đó, phương pháp thực hành này được gọi là Đạo đế – con đường dẫn đến sự diệt khổ.

Con đường dẫn đến sự diệt khổ thực chất là việc thực hành hạnh không tạo tác bằng Tập đế.

Người đời thường chỉ nghĩ "làm một việc gì đó" mới là thực hành, mới là thói quen (hạnh), chứ họ không hề biết rằng "không làm" cũng là một sự thực hành.

Nói về thói quen hay sự thực hành: người uống rượu thì có thói quen uống rượu, còn người không uống rượu thì có thói quen không uống rượu.

Người ăn trộm thì có tính ăn trộm, còn người không ăn trộm thì có đức tính không ăn trộm.

Người nói dối thì có thói quen nói dối, còn người không nói dối thì có đức tính không nói dối.

Người hay chửi rủa thì có thói quen chửi rủa, còn người không chửi rủa thì có đức tính không chửi rủa.

Vậy việc thực hành không trộm cắp, không sát sanh, không nói dối, không uống rượu, không xúc phạm người khác là sự thực hành gì?

Đó chính là thực hành Giới luật (Giới hạnh).

Thực hành Giới hạnh không phải là làm một điều gì đó, mà chính là thực hành việc "không làm" (bỏ ác).

Tương tự như vậy, thực hành con đường diệt khổ ở đây chính là thực hành việc không áp đặt ý muốn và sở thích cá nhân của mình vào vạn vật.

Đối với các tâm thức khởi lên qua Thấy, Nghe, Ngửi, Ăn, Chạm, Biết, nếu ta không xen lòng mong cầu hay sở thích của mình vào, mà chỉ thuần túy nhận biết chúng một cách trực diện, thì các phiền não như tham, sân sẽ không sinh khởi.

Nhờ đó, nỗi khổ do phiền não gây ra sẽ hoàn toàn vắng lặng.

Trong tất cả các pháp thực hành, việc nhận biết mọi thứ một cách trực diện mà không để ý muốn và sở thích cá nhân xen vào chính là điều khó khăn nhất.

Nguồn sưu tầm: Myanmar


Publié le : 29-09-2026 - 08:52